Chưa được phân loại

Tổng quan về pháp luật nhãn hiệu hàng hóa

6 Tháng Ba, 2018

1.1   Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá

 1.1.1  Khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa trong Hiệp định TRIPs và pháp luật Việt Nam

 * Khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa trong Hiệp định TRIPs

 Hiện nay, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều rất quan tâm đến bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Trên thế giới đã có rất nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá như Công ước Paris (1883), Thoả ước Madrid (1891), Hiệp định về các khía cạnh liên quan liên quan đến thương mại của SHTT ( TRIPs), Hiệp định về luật nhãn hiệu hàng hóa ký giữa các nước thành viên trong khuôn khổ WIPO…trong đó điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng hoá như sau:

“Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa”.(Điều 15 – Hiệp định TRIPs).

Có thể thấy khái niệm nhãn hiệu hàng hóa trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quát, và do đó mang tính quy chuẩn. Việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là nhãn hiệu hàng hóa hay không sẽ căn cứ vào tính phân biệt của hàng hoá dịch vụ. Điều n ày thể hiện rõ nhất trong các quy định tương ứng của TRIPs là bất kỳ một dấu hiệu nào, cho dù là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mùi vị có khả năng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều được coi là nhãn hiệu hàng hóa. Đây cũng là cách tiếp cận chung của các nước khi định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật của mình. Tuy nhiên, các nước cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến những yếu tố có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp. Sự khác biệt này đôi khi bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế hay mức độ đa dạng của nền kinh tế. Vì thế, có trường hợp chúng ta thấy ở một số nước phát triển thì các dấu hiệu được coi là nhãn hiệu hàng hóa có thể bao gồm cả hình ảnh ba chiều, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yếu tố cấu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận.

  • Khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam

 Tại Việt Nam, Điều 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.

Trên cơ sở Khoản 1 Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy định về nhãn hiệu hàng hoá trong BLDS Việt Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu chuẩn “có khả năng phân biệt” là cơ sở để một dấu hiệu có thể được dùng làm nhãn hiệu hàng hóa hay không. Tuy nhiên, so với quy định tại Điều 15 Hiệp định TRIPs thì quy định này hạn chế hơn, không thể hiện sự “mạnh mẽ” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIPs là: bất kỳ dấu hiệu, tổ hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. BLDS Việt Nam quy định có phần cụ thể hơn khi liệt kê các dấu hiệu này, theo đó các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu hàng hoá bao gồm từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa từ ngữ và hình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều mầu sắc. Quy định này đã giới hạn các dấu hiệu có thể lựa chọn làm nhãn hiệu trong ba loại dấu hiệu. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu hàng hoá, họ không thể chọn các dấu hiệu nằm ngoài các dấu hiệu đã được liệt kê tại điều 785 BLDS. Trong tình hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu này có lẽ là phù hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loại hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú đa dạng, các nhà sản xuất luôn mong muốn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hấp dẫn cho các sản phẩm của mình để thu hút công chúng và cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì Việt Nam sẽ chưa thể bắt nhịp được với thế giới nếu như chúng ta bỏ qua những dấu hiệu đã được các nước trên thế giới công nhận như âm thanh, mùi vị…

Quy định liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại khoản 1 Điều 6 Hiệp định thương m ại Việt Nam – Hoa Kỳ đã thể hiện một khái niệm bao quát và gần với chuẩn mực quốc tế

hơn: nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận”. Như vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ thì các dấu hiệu có thể cấu tạo nên nhãn hiệu hàng hóa được mở rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, hình ảnh như quy định của BLDS Việt Nam mà còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc…ngoài ra Hiệp định còn phân loại nhãn hiệu hàng hóa thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Tuy nhiên, các nhãn hiệu như âm thanh, mùi vị vẫn chưa được đề cập đến trong nội dung Hiệp định này.

Xuất phát từ nhu cầu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Sở hữu trí tuệ trong Bộ luật chỉ còn lại những quy định mang tính chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhãn hiệu hàng hoá cũng không còn quy định trong BLDS mà sẽ được quy định trong luật SHTT. Dự thảo 4 của Luật SHTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:

  1. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác
  2. NHTT là …
  3. NHCN là …
  4. Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được, có thể là chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ảnh 3 chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [30].

Như vậy, khái niệm tại Dự thảo Luật SHTT được định nghĩa theo tiêu chí chức năng của nhãn hiệu. Chức năng của nhãn hiệu là dùng để (cho người tiêu dùng và nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ) phân biệt hàng hoá, dịch vụ, vì vậy dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được. Định nghĩa này thực ra cũng tương tự như định nghĩa tại Điều 785 Bộ luật Dân sự 1995. Tuy nhiên, so với pháp luật hiện hành, điều này đã làm rõ nghĩa một loại dấu hiệu có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu, đó là hình ảnh ba chiều. Dấu hiệu này được pháp luật các nước trên thế giới thừa nhận bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu và thực tế Việt Nam đã đăng ký bảo hộ. Ví dụ như hình dáng của chai Coca cola. Bên cạnh đó, điểm mới tiếp theo của định nghĩa này so với pháp luật hiện hành là bổ sung điều kiện “nhìn thấy được” đối với nhãn hiệu.

Tóm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, để phù hợp với sự phát triển vừa tạo được một sự linh hoạt cần thiết trong quá trình áp dụng, có thể đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hoá như sau:

Tất cả những dấu hiệu, đặc biệt là từ ngữ, tên người, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt, các yếu tố hình, tổ hợp màu sắc hoặc các yếu tố khác đều có thể được bảo hộ là nhãn hiệu hàng hoá nếu chúng có khả năng dùng để phân biệt được hàng hoặc dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh này với cơ sở sản xuất kinh doanh khác.

1.1.2  Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hàng hoá

Theo xu hướng quốc tế hiện nay thì các dấu hiệu có thể được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa rất phong phú, nó có thể cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc là sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của cơ sở sản xuất kinh doanh khác. Trên tinh thần của các Điều ước quốc tế thì có thể phân loại một số dấu hiệu hiện nay được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa như sau:

  • Dấu hiệu từ ngữ

Từ ngữ là dấu hiệu được dùng phổ biến nhất, có thể là một từ hoặc mộ t tập hợp từ. Dấu hiệu “từ ngữ” được hiểu là các dấu hiệu chữ bao gồm các chữ cái hoặc chữ số. Một hay nhiều chữ cái, một hay nhiều số hoặc sự kết hợp giữa chúng là loại nhãn hiệu hàng hóa phổ biến. Ví dụ như: 7 up, Trung nguyên, NIKE…

Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhãn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là từ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được và không có trong từ điển, ví dụ như Elead, Yahoo…2) sử dụng từ thông dụng- là những từ hiện dùng và thực sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đó, ví dụ như: Rạng Đông, Trung Thành…3) Sử dụng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện dùng và các âm tiết dễ nhận biết, ví dụ như: Vinamilk, Thinkpad…4) sử dụng các từ viết tắt – là những từ thông thường được tạo thành từ những chữ cái đầu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng có thể phát âm được và mang một thông điệp nào đó như: AIA, IBM, LG, FP T…

Theo quy định tại điều 6.2a Nghị định 63/CP thì không phải bất kỳ chữ cái và chữ số nào cũng đều được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa, nhất là đối với chữ c ái đứng đơn lẻ, không được cách điệu thì sẽ được xem là không có tính phân biệt nên không có khả năng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, các chữ cái, chữ số, các chữ không có khả năng phát âm như một số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ không thông dụng trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi. Ngoài ra, nếu chỉ bao gồm một từ chữ cái hoặc một chữ số thì sẽ bị xem là quá đơn giản, ngược lại nếu có quá nhiều chữ cái hoặc có quá nhiều chữ số, dài quá thì cũng có thể không được bảo hộ, nhưng nếu có thể đọc được và viết theo một ký tự riêng lại có thể được bảo hộ.

Tuy nhiên, tính chất “khả năng tự phân biệt” không mang một ý nghĩa tuyệt đối. Tính chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhãn hiệu trên thị trường. Chẳng hạn như một nhãn hiệu là dấu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ cái, hình học đơn giản…) sau một thời gian dài được sử dụng liên tục với số lượng lớn và rộng rãi, có thể trở thành dấu hiệu có khả năng tự phân biệt do người tiêu dùng vì qua việc sử dụng rộng rãi này, nhãn hiệu đã trở nên nhận biết được, phân biệt được cho người tiêu dùng. Ví dụ: “333” là một dấu hiệu đã trở thành một nhãn hiệu thông dụng. “PN” là một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phẩm của Shiseido.

Về vấn đề này, pháp luật Nhật Bản cũng không quy định việc kết hợp các chữ cái hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được. Nếu nhãn hiệu hàng hóa chỉ bao gồm có một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quá đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất phải từ hai chữ cái trở lên. Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà chính bản thân hàng hoá hoặc dịch vụ mang nhãn nhãn hiệu đó lại lấy đó làm dấu hiệu hay mã hàng theo quy định của Nhật Bản thì sự kết hợp đó lại được xem như là quá đơn giản và không được đăng ký. Ngoài ra, có một quy định khá đặc biệt là nếu hai chữ cái anphabet được nối với nhau bằng dấu “&” thì lại được coi là có tính phân biệt và có khả năng đăng ký [41; tr. 8].

  • Tên địa danh cũng là một dấu hiệu thường được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam, tuy nhiên nó có nguy cơ trở nên khó phân biệt với việc bảo vệ tên gọi xuất xứ hàng hoá hay chỉ dẫn địa lý vì nó ám chỉ đến những khu vực địa lý mà người tiêu dùng thường nghĩ rằng đó là nơi xuất xứ gốc của sản phẩm như nước mắm Phú Quốc, chè Mộc Châu, kẹo dừa Bến Tre, Vang Đà Lạt…
  • Tên người, xét về bản chất, chính là sự chứa đựng các chữ cái được ghép lại với nhau tạo thành một nghĩa hoàn chỉnh. Nhưng tên người ở đây được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hoá khi nó có tính phân biệt giữa tên người này với tên người khác gắn trên sản phẩm, dịch vụ. Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa quy định tên người được làm nhãn hiệu hàng hoá vì trên thực tế “Tên người” làm nhãn hiệu hàng hoá rất dễ gây nhầm lẫn cho khách hàng, bởi có rất nhiều người tên giống nhau, vì vậy không p hải chủ hàng hoá, dịch vụ nào sử dụng tên người để đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ cũng được chấp nhận. Tuy nhiên BTA đã thể hiện sự tiến bộ của mình khi quy định về dấu hiệu này.

Ở một số nước phát triển trên thế giới, tên họ là một dấu hiệu thường được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa, họ gia đình thường được dùng rất phổ biến làm tên công ty hay nhãn hiệu gắn lên hàng hoá dịch vụ như: mỹ phẩm  Estee  Lauder,  xe  hơi FORD và HONDA… nhưng, đa số các nước, kể cả Mỹ và Châu Âu thường không cho phép đăng ký các họ gia đình phổ thông làm nhãn hiệu hàng hóa vì nó thiếu tính phân biệt, đồng thời như trên đã phân tích nó rất dễ gây nhầm lẫn cho khách hàng.

  • Dấu hiệu hình ảnh

Dấu hiệu hình ảnh bao gồm cả hình ảnh hai chiều và hình ảnh 3 chiều. Dấu hiệu hình ảnh có tác dụng thu hút sự chú ý của người tiêu dùng thông qua thị giác, bao gồm các hình vẽ, các nét vẽ, biểu tượng hai chiều bằng một màu hay nhiều màu của hàng hoá hay bao bì. Hiện nay, dấu hiệu hình ảnh, đặc biệt là dấu hiệu hình ảnh ba chiều dành được rất nhiều sự quan tâm từ phía doanh nghiệp vì dấu hiệu này được xem là có khả năng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ, sức lôi cuốn và dễ in sâu vào trong tâm lý người tiêu dùng, do đó có khả năng phân biệt rất cao. Ví dụ: hình con ngựa bay đúc nguyên khối của xe Rolls-Royce, hai chữ C đan vào nhau của Chanel, chữ M cách điệu Motorola, con mắt của CBS, 3 hình elíp lồng vào nhau của Toyota và thật ấn tượng với hình ảnh của chiếc vô lăng được cách điệu thành ngôi sao ba cánh nằm trong vòng tròn của xe Mercedes. Có thể nói, hình ảnh này đã thể hiện việc sử dụng ngôn ngữ tạo hình hết sức khái quát, tiếp cận khách hàng một cách nhanh, mạnh, sâu nhất, làm cho khách hàng liên tưởng đến những gì tích cực nhất của sản phẩm và sự uy tín của doanh nghiệp.

Pháp luật Việt Nam, tại điều 785 BLDS 1995 có đề cập đến dấu hiệu hình ảnh nhưng không quy định cụ thể là dấu hiệu hình ảnh ba chiều. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu rộng ra thì thuật ngữ “hình ảnh” mà điều này đã đề cập đến bao gồm cả hình ảnh hai chiều, hình ảnh ba chiều và trên thực tế Việt Nam đã thừa nhận và bảo hộ các dấu hiệu thuộc loại này.

  • Dấu hiệu tổ hợp màu sắc

Dấu hiệu này bao gồm các từ ngữ, hình ảnh và bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng có màu sắc hoặc sự kết hợp màu sắc với các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc. Việc sử dụng các chữ cái, hình hoạ với màu sắc hoặc kết hợp màu sắc nói chung thường làm tăng thêm tính phân biệt của chúng và thường dễ dàng được chấp nhận đăng ký hơn.

Theo quy định của TRIPs, không những các dấu hiệu thông thường có thể được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa mà ngay chính bản thân sự kết hợp các màu sắc với nhau cũng có thể được đăng ký như một nhãn hiệu hàng hóa. Pháp luật Mỹ và EU cũng không phản đối điều này. Luật mẫu về nhãn hiệu hàng hóa của tổ chức SHTT thế giới (WIPO) cũng dành hẳn phần 1 (2) quy định về những sự kết hợp màu sắc nào có thể được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa.

Hiện nay BLDS Việt Nam 1995 chưa quy định rõ về dấu hiệu này mà nó mới chỉ được quy định trong Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ, vì vậy trong thời gian tới pháp luật Việt Nam cần có sự bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hơn đối với việc cho phép tổ hợp màu sắc được đăng ký bảo hộ làm nhãn hiệu hàng hoá.

Thực tế, nước ta cũng như tại các nước trên thế giới cho thấy ba loại dấu hiệu trên đây được sử dụng rộng rãi nhất trong các nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia phát triển, những dấu hiệu mà con người có khả năng “tri giác” được đều có thể sử dụng như là một nhãn hiệu hàng hóa. Vì vậy, bên cạnh những dấu hiệu nhìn thấy được như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, sự kết hợp của các yếu tố này, thì những dấu hiệu nghe thấy được như âm thanh, mùi vị cũng đã được một số quốc gia bảo hộ như là nhãn hiệu hàng hóa.

Hiện nay, các nhà sản xuất luôn luôn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo và hấp dẫn cho sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình để tạo ấn tượng đến công chúng và quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra thì việc công nhận, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các quốc gia khác là một xu thế tất yếu của thời đại. Do đó, chúng ta cũng nên bảo hộ cho những nhãn hiệu hàng hoá đặc biệt này nếu như việc bảo hộ đó không trái với quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác.

1.1.3.  Các điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá

Nhãn hiệu hàng hoá có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Việc lựa chọn sản phẩm thích hợp của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi uy tín của nhãn hiệu hàng hóa đồng thời là uy tín của doanh nghiệp đó. Do vậy, hầu hết tất cả các doanh nghiệp đều có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ của người khác. Đây là quyền lợi và cũng là trách nhiệm của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi dấu hiệu mà nhà sản xuất, kinh doanh đưa ra để đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đều được Cục sở hữu SHTT – cơ quan có thẩm quyền xét và cấp văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hoá. Nghị định 63/CP quy định để đăng ký và bảo hộ như một nhãn hiệu hàng hóa thì dấu hiệu đó phải đáp ứng một số điều kiện sau:

1.1.3.1 Điều kiện về tính phân biệt

Tính phân biệt là một chức năng quan trọng và cũng là yêu cầu trước tiên cần phải có nếu một nhãn hiệu hàng hóa muốn được đăng ký bảo hộ. Điều 15.1. TRIPs quy định bất kỳ một dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa.

Trên thực tế, việc đánh giá tính phân biệt của một nhãn hiệu hàng hóa là một vấn đề phức tạp, nhất là trong việc pháp điển hoá bằng pháp luật. Trong các quy định thành văn của TRIPs, pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước như Nhật, Mỹ đều không định nghĩa thế nào là tính phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa mà chỉ quy định các dấu hiệu không có khả năng phân biệt. Tuy vậy, khái niệm về tính phân biệt lại được hiểu một cách nhất quán trong giới luật gia các nước. Có thể hiểu một cách chung nhất về tính phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa là khả năng của nhãn hiệu hàng hóa giúp cho người tiêu dùng xác định được nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn. Để thực hiện được chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác thì bản thân nhãn hiệu hàng hóa phải có khả năng tự phân biệt, cụ thể là nhãn hiệu đó phải có đủ khả năng tác động vào nhận thức của người tiêu dùng, để người tiêu dùng có thể nhận biết, ghi nhớ và so sánh nhằm xác định mục đích xác định, lựa chọn hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp.

Điều 6.1 Nghị định 63/CP quy định một dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hóa được công nhận là có tính phân biệt khi nó đáp ứng đầy đủ 8 điều kiện được l iệt kê trong đó. Tuy nhiên, trong thực tế thì các điều kiện này cũng được đề cập một cách đầy đủ trong pháp luật của Mỹ hay EU, Nhật Bản. Chúng được coi là những trường hợp rõ ràng cần phải từ chối đơn đăng ký chứ không được dùng để xây dựng định nghĩa về tính phân biệt. Do vậy mà về mặt bản chất thì cách hiểu của Việt Nam về tính phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa là không có gì khác so với cách hiểu chung của pháp luật quốc tế và các nước nói trên.

Tính phân biệt cần phải được đánh giá trong mối liên hệ với những hàng hoá mà nhãn hiệu đó được áp dụng. Dấu hiệu không có tính phân biệt thì không thể giúp người tiêu dùng xác định đúng được hàng hoá mà họ mong muốn lựa chọn. Ví dụ như từ apple, nghĩa là quả táo, về mặt văn học nó không liên quan gì đến máy tính cá nhân, vì thế khi được chọn làm nhãn hiệu cho máy tính thì ngay lập tức nó có tính phân biệt cao mà người tiêu dùng khi nhìn thấy nhãn hiệu đó gắn trên máy tính đã biết máy tính đó do hãng nào sản xuất và chất lượng có thoả mãn nhu cầu của mình hay không.

Một vấn đề nữa cần lưu ý là tính phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa cần phải được đánh giá trong sự so sánh, đối chiếu với các hàng hoá, dịch vụ cạnh tranh cùng loại, không phải là với tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ có trên thị trường. Vì mục đích của các nhà s ản xuất cũng chỉ nhằm cho người tiêu dùng l ựa chọn và phân biệt hàng hoá, dịch vụ của mình với các hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp khác.

Tuy nhiên, chúng ta c ần phải xác định về mức độ phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa, có nghĩa là sự phân biệt được thể hiện ở mức độ nào thì nhãn hiệu hàng hóa đó sẽ được bảo hộ. Liên quan tới vấn đề này c ần phải có sự phân biệt hai loại nhãn hiệu hàng hoá tiêu biểu – các nhãn hiệu hàng hóa tự đặt, tự nghĩ ra mà không hàm chứa một ý nghĩa nào c ả và nhãn hiệu hàng hóa được đ ặt trên cơ sở những dấu hiệu sẵn trong tự nhiên và thường nó đều mang một ý nghĩa nào đó.

Với loại thứ nhất, một số ví dụ chúng ta có thể biết đến, Đó là KODAK dành cho phim chụp ảnh, nhãn hiệu ô tô nổi tiếng BMW hay nhãn hiệu CAMEL dùng cho thuốc lá và nhãn hiệu APPLE đã đề cập trên đây (bao gồm cả phần từ ngữ và hình ảnh) dành cho máy tính. Nhãn hiệu này được các doanh nghiệp ưa chuộng vì ngoài những tiêu chí đơn gi ản, dễ đọc, thân thiện và có ý nghĩa, nhãn hiệu hàng hóa cần phải ấn tượng và khác biệt. Đây là một yếu tố quan trọng nhằm tăng sự nhận biết về nhãn hiệu. Sự khác biệt của một nhãn hiệu hàng hóa là yêu cầu để nhà nước bảo hộ song nó còn được xem như là một lợi thế đối với các nhãn hiệu hàng hóa c ạnh tranh. Để có được một cái tên khác biệt và nổi trội như những nhãn hiệu hàng hóa trên, các công ty đã lựa chọn các chữ cái và kết hợp tạo thành một cái tên chưa từng được biết đến, kể cả trong từ điển và chúng cũng chẳng có liên quan gì đến sản phẩm mang nhãn. Ví dụ như nhãn hiệu nổi tiếng KODAK. Hay như logo của BMW được thiết kế là biểu tượng của phần dẹt cánh quạt máy bay màu trắng, tương phản với bầu trời màu xanh. Nó phản ánh nguồn gốc của BMW là một nhà sản xuất động cơ máy bay quân sự trong thế chiến thứ nhất. Đây là một ví dụ điển hình cho một công ty có nhãn hiệu hàng đầu vẫn còn giữ lại, thể hiện được những gì tiêu biểu nhất

trong truyền thống của mình qua hình thức bên ngoài logo của công ty mà không kém phần đơn giản, xúc tích và có ý nghĩa, mặc dù theo cách hiểu trên thì nó cùng chẳng có gì liên quan đến ô tô. Tuy nhiên, vì thường là nhãn hiệu độc đáo, có tính chất như là một vật đặc định và mang tính phân biệt rõ nét, nên những nhãn hiệu hàng hoá này khi đã đi vào lòng công chúng thì người tiêu dùng sẽ dễ dàng nhận ra hàng hoá, dịch vụ mang nhãn lập tức khi nhìn thấy chúng và những nhãn hiệu mang những dấu hiệu này cũng thường được sự bảo hộ rất mạnh mẽ của pháp luật và khả năng được chấp nhận và đăng ký rất cao.

Loại thứ hai thường được các nhà doanh nghiệp ưa sử dụng hơn vì thường là những thuật ngữ ít nhiều mang tính mô tả (descriptive), nghĩa là nó chứa đ ựng những thông tin làm cho người tiêu dùng liên tưởng tới các đ ặc điểm hay chất lượng của sản phẩm mang nhãn. Nhìn chung pháp luật của các nước thường công nhận một nguyên tắc là các thuật ngữ mô tả có thuộc tính phân biệt đối với hàng hoá liên quan nếu nó mang một ý nghĩa thứ cấp (secondary meaning), nghĩa l à nếu những người tiêu dùng khi nhìn thấy nó có thể nhận biết được hàng hoá từ một nguồn thương mại xác định. Đáp ứng được điều kiện này thì nhãn hiệu hàng hóa sẽ được đăng ký. Có thể thấy rất nhiều ví dụ trong thực tiễn về loại nhãn hiệu hàng hóa này. “Điện quang” được dùng làm nhãn hiệu hàng hóa cho một loại bóng đèn do công ty Điện quang sản xuất và nó cũng mang nghĩa là thắp sáng bằng điện và làm cho người dùng ngay cả khi chưa dùng bóng Điện quang cũng có thể liên tưởng tới bóng đèn. Hay nhãn hiệu BP với logo hình hoa hướng dương với 18 cánh vừa tượng trưng cho sự may mắn, vừa là hình ảnh của mặt trời, một nguồ n năng lượng sạch và gần như vô tận. Phát triển nguồn năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió là hướng đi mới của BP và logo này do vậy cũng biểu trưng cho chiến lược phát triển bền vững và thân thiện với môi trường. Ho ặc như Walkman là nhãn hiệu head phone c ủa Sonny. Chữ Walkman ít nhiều giúp ta liên tưởng đến loại máy nhỏ bỏ túi mà “người đi bộ” có thể cầm nghe theo. Những nhãn hiệu hàng hóa ít nhiều nói lên chất lượng sản phẩm như Angel (thiên thần) hay Dream (giấc mơ) là những cái tên mà các hãng xe máy muốn nói lên phần nào chất lượng, giá trị sản phẩm của công ty.

Có thể thấy giá trị của một nhãn hiệu hàng hóa chính là tính phân biệt của nó. Các doanh nghiệp bao giờ cũng nỗ lực hết sức nâng cao c hất lượng và quảng bá s ản phẩm nhằm làm cho nhãn hiệu hàng hóa của mình có tính phân biệt cao trong tâm trí người tiêu dùng. Trên phương diện quản lý nhà nước cũng thường căn c ứ trên sự xác định tính phân biệt của một nhãn hiệu để cho phép hay không cho phép đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Để xác định tính phân biệt của một nhãn hiệu được dễ dàng, pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật c ủa một số nước trên thế giới đều quy định một số trường hợp các dấu hiệu tạo thành nhãn hiệu không có tính phân biệt, có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và do đó sẽ bị từ chối đăng ký nhãn hiệu hàng hóa.

1.1.3.2.  Các trường hợp không được bảo hộ do thiếu tính phân biệt

 Pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước đều quy định nếu dấu hiệu tạo thành nhãn hiệu không có tính phân biệt sẽ bị từ chối vì không thể thực hiện chức năng phân biệt của một nhãn hiệu hàng hóa. Về những trường hợp không được đăng ký do thiếu tính phân biệt, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước đều có sự giống nhau trong việc chia những trường hợp không được đăng ký do thiếu tính phân biệt thành 3 loại sau:

* Loại thứ nhất: thiếu tính phân biệt do trùng hay tương tự gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác.

Dấu hiệu xin đăng ký phải không được trùng hoặc tương tự ở mức có thể gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu hàng hóa nào đó đã tồn tại trước đó (nhãn hiệu đối chứng). Điều kiện này nhằm bảo vệ quyền lợi của nhãn hiệu đối chứng, đồng thời tránh cho người tiêu dùng có thể hiểu nhầm là những sản phẩm mang dấu hiệu xin đăng ký là s ản phẩm mang nhãn hiệu đối chứng hoặc ngược lại. Tuy nhiên, trên thực tế có thể thấy các trường hợp trùng hoặc tương tự dẫn tới gây nhầm lẫn được quy định trong pháp luật Việt Nam và các nước đều là những trường hợp mà cơ sở để ra quyết định từ chối cho đăng ký là hết sức tương đối. Chủ yếu nó phụ thuộc vào sự cân nhắc, xem xét của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các trường hợp quy định tại điểm b, c, d, e, khoản 1, Điều 6 Nghị định 63/CP là những trường hợp có thể bị coi là thiếu tính phân biệt do trùng hay tương t ự tới mức gây nhầm lẫn dẫn đến thiếu tính phân biệt.

Hiện nay, Việt Nam chưa có các quy định cụ thể về các tiêu chí làm thế nào có thể xác định được sự tương tự đến mức gây nhầm lẫn giữa 2 nhãn hiệu. Việc quyết định một nhãn xin đăng ký có tương tự tới mức gây nhầm lẫn đối với một nhãn đối chứng hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự xem xét chủ quan của Cục SHTT, tuy nhiên Cục SHTT cũng chưa có văn bản hướng dẫn chính thức về phương pháp xác định mức độ có thể gây nhầm lẫn. Pháp luật Mỹ, EU và Nhật Bản cũng không có quy định chính thức thành văn bản đối với cách thức xác định vấn đề này, tuy nhiên các cơ quan có thẩm quyền đăng ký tại các nước đó thường có các tài liệu hướng dẫn chi tiết về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và trong đó đưa ra một số nguyên tắc xác định mức độ tương tự có thể gây nhầm lẫn. Ngoài ra, ở những nước có truyền thống án lệ như Mỹ, các bản án của Toà án, đặc biệt là Toà án tối cao Mỹ là những nguồn luật quan trọng của pháp luật và trong đó phân tích chi tiết về vấn đề pháp lý liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa. Cục SHTT Việt Nam, trong thực tế thẩm định tương tự có thể gây nhầm lẫn, cũng áp dụng một số nguyên tắc sau:

  • Dấu hiệu có tương tự về mặt cấu trúc, ý nghĩa và hình thức thể hiện với nhãn hiệu đối chứng không?
  • Bản chất của hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu có tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng không?
  • Phương thức lưu thông hàng hoá trên thị trường (kênh thương mại) của hàng hoá mang dấu hiệu và hàng hoá mang nhãn hiệu đối chứng có tương tự không?
  • Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu đối chứng;
  • Thời gian và điều kiện mà trong đó dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng đã cùng được sử dụng song song mà không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
  • Tất cả các yếu tố có liên quan khác.

Một dấu hiệu bị coi là tương tự về cấu trúc so với nhãn hiệu đối chứng nếu cấu trúc của dấu hiệu đó được tạo thành thêm nhữ ng thành phần mới thứ yếu vào nhãn hiệu đối chứng, hoặc bằng cách loại bỏ hay thay đổi phần thứ yếu của nhãn hiệu đối chứng. Trường hợp này thường xảy ra đối với những nhãn hiệu dạng chữ. Trong tiếng Việt, có những nhãn hiệu hàng hóa dạng chữ tuy khác nhau về dấu nhưng vẫn có thể bị coi là tương tự nhau về mặt cấu trúc. Ví dụ: các nhãn hiệu PHOTONICA, PHOTOKINA. Phần đầu của hai dấu hiệu này trùng lặp, phần sau của các dấu hiệu được tạo thành từ các ký tự giống nhau (C/K+I+N+A). Điểm khác biệt duy nhất là các ký tự trong mỗi dấu hiệu được sắp xếp theo trật tự khác nhau. Như vậy, nếu hàng hoá, dịch vụ mang các dấu hiệu trên được mô tả hay đặt hàng bằng miệng thì khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng là rất lớn.

Một dấu hiệu bị coi là tương tự về mặt ý nghĩa so với nhãn hiệu đối chứng nếu dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng, hoặc phần chủ yếu của chúng có cùng một nội dung diễn đạt cùng một đối tượng (sự vật, hiện vật hay khái niệm…), hoặc hai đối tượng tương tự nhau. Ví dụ: nhãn hiệu SUNSET và SUNRISE, cả hai dấu hiệu này đều có mối liên quan đến “mặt trời” cho dù là chúng chỉ các trạng thái khác nhau của mặt trời: “mặt trời mọc” và “mặt trời lặn”. Hình ảnh lưu giữ trong trí nhớ người tiêu dùng sẽ là hình ảnh “một nửa mặt trời”.

Một dấu hiệu bị coi là tương tự về mặt hình thức thể hiện so với nhãn hiệu đối chứng nếu toàn bộ hoặc phần chủ yếu của dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng được trình bày theo một phong cách, trong đó màu sắc của nhãn hiệu được coi là một yếu tố của phong cách trình bày.

Tính tương tự của hàng hoá được đánh giá trên cơ sở xem xét về bản chất (cấu tạo, thành phần, hình dáng…), chức năng (công dụng hay mục đích sử dụng) và phương thức thực hiện chức năng. Nếu hai hàng hoá có cùng bản chất, có cùng chức năng và cùng phương thức thực hiện chức năng đó thì chúng được coi là hai hàng hoá cùng loại.

Như vậy, để kết luận một dấu hiệu có tương tự gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác hay không (nhãn hiệu đối chứng), thì phải xem xét một cách tổng thể đến mọi yếu tố liên quan.

* Loại thứ hai: thiếu tính phân biệt do sử dụng các thuật ngữ chung hoặc thông dụng (generic terms) hoặc sử dụng các dấu hiệu mang tính mô tả đơn thuần (Descriptive signs)

Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa Việt Nam đã liệt kê khá cụ thể các dấu hiệu chỉ rõ tính thông dụng, chỉ rõ sự cần thiết, tính chất của sản phẩm hoặc dịch vụ là những dấu hiệu thiếu tính phân biệt. Pháp luật nhãn hiệu hàng hóa c ủa Việt Nam xác định đó là những dấu hiệu được sử dụng chung trong thương mại và được định nghĩa là những dấu hiệu mà một người không thể dùng nó để làm cho hàng hoá, dịch vụ của mình phân biệt với hàng hoá, dịch vụ của người khác được bởi vì chúng quá chung chung và chỉ được sử dụng để chỉ ra chủng lo ại của hàng hoá, dịch vụ. Do đó không cho phép những nhãn hiệu này thuộc quyền sử dụng riêng của một chủ thể. Ví dụ như “Tin tức” dùng để chỉ các loại báo, tạp chí, “Xà phòng” dùng để chỉ các loại sản phẩm tẩy rửa, “Đồ gia dụng” dùng để chỉ các sản phẩm gia dụng, bàn, ghế nói chung, “đồ uống”, “cà phê”, và “cà phê hoà tan” (instant coffee) vv…

Điều 6.2.b Nghị định 63/CP của Việt Nam quy định các dấu hiệu thuộc loại thuật ngữ chung và không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu hàng hóa bao gồm: “Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ ho ặc tên gọi thông thường của hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên được nhiều người biết đến”.

Những dấu hiệu, biểu tượng, quy ước, hình vẽ của hàng hoá, tên gọi thông thường của hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên nhiều người biết đến sẽ không được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa. Hiện nay có nhiều dấu hiệu, biểu tượng, quy ước đã được thừa nhận chính thức như các ký hiệu giao thông, năm vòng tròn lồng vào nhau là biểu tượng cho các thế vận hội thể thao, hình chữ thập đỏ biểu tượng ngành y tế vv… Các biểu tượng quy ước này không thể được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu hàng hóa.

Các dấu hiệu mang tính mô tả được quy định tại điểm c khoản 2 điều 6 NĐ63/CP là những dấu hiệu sử dụng trong thương mại để đơn thuần chỉ ra những chủng loại, chất lượng, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ, thời gian sản xuất hoặc bất kỳ đặc tính nào khác của hàng hoá. Ví dụ: sử dụng các chữ “Super Tonic” cho dược phẩm; “Durable” cho s ản phẩm là vật liệu xây dựng… Có nghĩa là nó có thể dùng cho mọi hàng hoá, dịch vụ và không một loại hàng hoá, dịch vụ nào được phép độc quyền sử dụng để tránh nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

1.1.3.3.  Các dấu hiệu không được bảo hộ vì lý do khác

 Ngoài những dấu hiệu bị từ chối do thiếu hoặc không có tính phân biệt có những dấu hiệu có tính phân biệt hoặc có thể hình thành tính phân biệt qua quá trình sử dụng nhưng vẫn bị từ chối đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.

* Các dấu hiệu có tính chất lừa dối

 Những dấu hiệu có xu hướng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn về bản chất, chất lượng, nguồn gốc địa lý của sản phẩm hoặc dịch vụ mà bản thân nó không có thì sẽ không được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa.

Pháp luật Việt Nam quy định các dấu hiệu chứa đựng các thông tin có chủ ý gây nhầm lẫn sẽ không được bảo hộ. Điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/CP của Việt Nam quy định các dấu hiệu làm người tiêu dùng hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa đ ảo người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ thì không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu hàng hóa.

Trường hợp nhãn hiệu bị coi là có khả năng gây nên sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai lệch về bản chất, giá trị của hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu là nhãn hiệu từ ngữ hoặc/và hình ảnh gây nên ấn tượng sai lạc về tính năng, công dụng c ủa hàng hoá/dịch vụ. Ví dụ: nhãn hiệu trùng lặp hoặc tương tự với nhãn hiệu ho ặc với một nhãn hiệu khác được sử dụng rộng rãi đến mức được coi là gắn liền với một chức năng, công dụng của một loại sản phẩm/dịch vụ nhất định khiến cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu cũng có tính năng/công dụng đó. Nhãn hiệu từ ngữ, hình ảnh gây ấn tượng sai lạc về thành phần, cấu tạo của sản phẩm/dịch vụ: hình ảnh, từ ngữ mô tả sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu gây nên ấn tượng sai lạc rằng sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu được tạo thành ho ặc có bản chất như s ản phẩm/dịch vụ được mô tả.

Điều 7.1g Quy định số 40/94 của Hội đồng Châu Âu quy định những nhãn hiệu hàng hóa thuộc loại gây ra tác dụng lừa dối đối với công chúng, ví dụ về bản chất, chất lượng hay nguồn gốc địa lý của hàng hoá đó thì sẽ không được bảo hộ.

Pháp luật Nhật Bản cũng quy định tương tự, song chỉ đề cập đến việc nhãn hiệu hàng hóa có tính đánh lừa người tiêu dùng về chất lượng của hàng hoá, dịch vụ thì sẽ bị cấm [41; tr. 17].

* Các dấu hiệu được bảo hộ theo thông lệ quốc tế

Công ước Paris quy định các nước thành viên công ước phải từ chối đăng ký hoặc cấm sử dụng các nhãn hiệu chứa các biểu tượng quốc gia và các dấu hiệu chính thức mà không được phép, quy định tương tự cũng áp dụng cho huy hiệu, cờ các biểu tượng khác, các chữ viết tắt và tên của các tổ chức quốc tế. Trong quan hệ quốc tế, các dấu hiệu mà các thiết chế này sử dụng mang tính độc quyền. Điều 6.2. Nghị định 63/CP quy định những dấu hiệu, biểu trưng thể hiện sự hiện diện của các Nhà nước hay các tổ chức quốc tế không được chấp nhận là nhãn hiệu hoặc yếu tố tạo thành nhãn hiệu bao gồm:

  • Dấu hiệu giống ho ặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu bảo hành… c ủa Việt Nam , nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế;
  • Dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của quốc gia cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan có thẩm quyền cho phép.

* Các dấu hiệu xâm phạm các quyền được xác lập trước

 Pháp luật Việt Nam quy định rất chi tiết về các dấu hiệu không được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nếu xâm phạm các quyền đã được xác lập trước tại Điều 6 Nghị định 63/CP, đặc biệt là trong các trường hợp:

  • Xâm phạm nhãn hiệu được đăng ký trước hoặc NHNT theo quy định tại điều 6bis công ước Paris về bảo hộ SHCN;
  • Xâm phạm tên thương mại được bảo hộ;
  • Xâm phạm tên gọi xuất xứ hàng hoá đã được bảo hộ;
  • Xâm phạm quyền tác giả;
  • Xâm phạm quyền phát sinh từ kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;

Đối với các dấu hiệu đi ngược lại giá trị đạo đức hoặc chính sách công cộng, pháp luật các nước như Mỹ, Nhật Bản hay EU về cơ bản là giống nhau khi quy định việc từ chối đăng ký với các nhãn hiệu đi ngược lại các giá trị đạo đức hay chính sách công cộng, mặc dù mức độ đề cập cụ thể của từng nước có sự khác nhau. Mỹ và Nhật Bản chú trọng cấm các nhãn hiệu tạo ra ấn tượng khiêu dâm, phân biệt chủng tộc hay xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của mọi người, các dấu hiệu vi phạm đạo đức và lợi ích công cộng, các nhãn hiệu nhằm lăng nhục con người hoặc quốc gia nào đó [41; tr. 12], trong khi pháp luật EU chú trọng nhiều hơn tới các nhãn hiệu đi ngược lại với chính sách công cộng hay các nguyên tắc đã được công nhận về đạo đức. (Điều 1.f Quy định 40/1994 của Hội đồng Châu Âu).

Khác với các hệ thống pháp luật trên, pháp luật hiện hành của Việt Nam không có các quy định cụ thể về trường hợp không được bảo hộ thuộc loại này. Tuy nhiên, để khắc phục hạn chế trên, Dự thảo Luật SHTT đã quy định không bảo hộ những dấu hiệu thuộc loại này.

You Might Also Like

No Comments

Leave a Reply