Chưa được phân loại

【XEM】Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

1 Tháng Hai, 2018

【XEM】Đăng Ký Nhãn Hiệu Hàng Hóa

QUYỀN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM

Theo Điều 87 Luật SHTT, các tổ chức, cá nhân Việt nam hoặc nước ngoài có hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đều có quyền đăng ký nhãn hiệu hàng hóa dùng cho sản phẩm do mình cung cấp. Thương nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường do người khác sản xuất, với điều kiện người sản xuất đó không sử dụng nhãn hiệu hàng hóa và không phản đối việc đăng ký đó. Tổ chức tập thể có quyền đăng ký “nhãn hiệu hàng hóa tập thể” để các thành viên của mình sử dụng theo một “quy chế sử dụng” chung. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký “nhãn hiệu hàng hóa chứng nhận” theo một “quy chế chứng nhận” và bản thân tổ chức đó không được tiến hành sản xuất, kinh doanh lọai hàng hoá, dịch vụ được chứng nhận. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có thể cùng đăng ký một nhãn hiệu hàng hóa để trở thành đồng chủ sở hữu với điều kiện việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) liên quan; đồng thời, phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc phải sử dụng cho sản phẩm mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Các tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nêu trên có thể chuyển giao quyền đăng ký cho người khác bằng hợp đồng văn bản, nếu bên nhận đáp ứng các điều kiện như người có quyền đăng ký tương ứng.

Theo Khoản 3, Điều 12 Nghị định 103/2006/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân Việt Nam có thể thực hiện quyền đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa theo Hệ thống Madrid (đã đề cập tại Bài 5) như sau: nộp đơn theo Thoả ước Madrid nếu yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của mình tại nước thành viên của Thỏa ước Madrid, với điều kiện đã được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam; nộp đơn theo Nghị định thư Madrid, nếu yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của mình tại nước thành viên của Nghị định thư Madrid mà không phải là thành viên của Thỏa ước Madrid, với điều kiện đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam. Cục Sở hữu Trí tuệ là cơ quan tiếp nhận và xử lý các đơn đăng ký quốc tế dựa trên đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cơ sở tại Việt Nam.

Pháp lut v nhãn hiu hàng hóa Vit Nam trong thi k hi nhp kinh tế quc tế

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được xây dựng trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tạo lập được các cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cần nhận thấy rằng so với các yêu cầu, đòi hỏi và thách thức về phương diện lập pháp trong bối cảnh quốc tế hiện nay với các không gian pháp lý mới đang được xác lập thì hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta trong đó có các quy định pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện tại vẫn còn khá bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những điểm chưa phù hợp trong các quy định pháp luật hiện hành về nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp là một yêu cầu cấp thiết để Việt Nam có thể sớm đáp ứng các yêu cầu ra nhập WTO. Bên cạnh đó, thời gian qua, tình trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đặc biệt là đối với Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) diễn ra ngày càng phức tạp, đã và đang trở thành một vấn đề mang tính thời sự. Việt Nam đang trên đà hội nhập vào hệ thống thương mại đa phương, khi Việt Nam trở thành thành viên của AFTA và tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2006. Cạnh tranh sẽ trở nên sống còn trên tất cả các thị trường, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu đối với NHHH và nguy cơ bị mất các NHHH có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng lớn. Nhận thức được tầm quan trọng của NHHH đối với sự phát triển và hội nhập kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Là một học viên lớp cao học, với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về NHHH của Việt Nam, tôi đã chọn đề tài: ” Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sở hữu trí tuệ nói chung và NHHH nói riêng là một lĩnh vực phức tạp và mới mẻ ở Việt Nam, mặc dù đã tham gia Công ước quốc tế trong lĩnh vực này từ rất sớm nhưng mãi đến đầu những năm 80 chúng ta mới thực sự xây dựng những văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quyền SHCN. Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các văn bản pháp quy về về lĩnh vực SHCN lần lượt ra đời: đầu tiên là pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và sau đó được thay thế bằng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là Bộ luật Dân sự năm 1995. Từ khi có BLDS vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan, ban nghành, các nhà khoa học cũng như các cơ sở đào tạo Luật. Đã có nhiều hội thảo liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ được tổ chức như Hội thảo về Hiệp định TRIPs (tháng 8/1998), Hội thảo về thực thi quyền SHTT trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (11/2001), Hội thảo sở hữu trí tuệ Châu á và định hướng cho tương lai (tháng 5/2002), hội thảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật sở hữu trí tuệ ở Việt nam hiện nay” (tháng 11/2004); Hội thảo “sở hữu trí tuệ với doanh nghiệp cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam (tháng 12/2004). Công trình nghiên cứu khoa cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý về “Sở hữu trí tuệ thực trạng và xu hướng phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XXI”; “Bình luận khoa học các quy định của Bộ luật dân sự” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp; tập bài giảng “Sở hữu trí tuệ” của khoa luật dân sự, trường Đại học Luật Hà nội. Đồng thời có nhiều bài viết của các tác giả trong nước về sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học này chỉ đề cập tới các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung chứ không đi sâu nghiên cứu riêng về vấn đề bảo hộ NHHH. Trong lĩnh vực NHHH có công trình nghiên cứu đáng chú ý là luận văn của tác giả Vũ Thị Hải Yến “Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với NHHH tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật Dân sự” thực hiện năm 2001- Đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên về NHHH, song những nghiên cứu của công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề bảo hộ NHHH theo quy định của pháp luật Việt Nam. Công trình thứ hai là luận văn của tác giả Vũ Thị Phương Lan “So sánh pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam với các điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước phát triển” thực hiện năm 2002- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề so sánh pháp luật bảo hộ NHHH, nhưng phạm vi so sánh rộng nên chỉ đi vào các vấn đề chung có tính chất khái quát. Vì vậy, việc chọn và nghiên cứu đề tài “Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế” là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại. Tuy nhiên, để hoàn thành đề tài này, người viết phải tham khảo, sưu tầm, học hỏi các kiến thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ đã được công bố và các tạp chí nghiên cứu khoa học khác.

3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu những quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu hàng hoá sẽ ngày
càng hoàn thiện hơn, đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiến thông qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập.

4. Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ giới hạn của một luận án Thạc sỹ luật học, người viết không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá mà chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:

– Phân tích khái niệm NHHH theo quy định hiện hành, các tiêu chí để một NHHH được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

– Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền này trên thực tế của Việt Nam.
– Quan điểm của tác giả về một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung qua việc nghiên cứu pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc tế và pháp luật về NHHH của một số nước công nghiệp phát triển.

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng nhằm đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học.

Bên cạnh đó, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phân tích chứng minh, phân tích tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn lôgích…để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

6. Những điểm mới và ý nghĩa của đề tài

Về mặt khoa học, đề tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này. Tuy nhiên, tác giả cũng mạnh dạn đánh giá đây sẽ là công trình nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về nhãn hiệu hàng hoá, đồng thời phân tích thực trạng pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc tế tìm ra những điểm chưa tương thích trong bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra kiến nghị đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay.

Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị ban đầu cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn có bố cục như sau: Lời mở đầu, ba chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.

TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ

1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá

1.1.1 Khái niệm về NHHH trong Hiệp định TRIPs và pháp luật Việt Nam

* Khái niệm về NHHH trong Hiệp định TRIPs

Hiện nay, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều rất quan tâm đến bảo hộ NHHH. Trên thế giới đã có rất nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá như Công ước Paris (1883), Thoả ước Madrid (1891), Hiệp định về các khía cạnh liên quan liên quan đến thương mại của SHTT (TRIPs), Hiệp định về luật NHHH ký giữa các nước thành viên trong khuôn khổ WIPO…trong đó điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng hoá như sau:

     “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau đều có thể làm NHHH. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa”.(Điều 15 – Hiệp định TRIPs).

     Có thể thấy khái niệm NHHH trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quát, và do đó mang tính quy chuẩn. Việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là NHHH hay không sẽ căn cứ vào tính phân biệt của hàng hoá dịch vụ. Điều này thể hiện rõ nhất trong các quy định tương ứng của TRIPs là bất kỳ một dấu hiệu nào, cho dù là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mùi vị có khả năng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều được coi là NHHH. Đây cũng là cách tiếp cận chung của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của mình. Tuy nhiên, các nước cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến những yếu tố có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp. Sự khác biệt này đôi khi bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế hay mức độ đa dạng của nền kinh tế. Vì thế, có trường hợp chúng ta thấy ở một số nước phát triển thì các dấu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cả hình ảnh ba chiều, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yếu tố cấu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận.

* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, Điều 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHH là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.

Trên cơ sở Khoản 1 Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy định về nhãn hiệu hàng hoá trong BLDS Việt Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu chuẩn “có khả năng phân biệt” là cơ sở để một dấu hiệu có thể được dùng làm NHHH hay không. Tuy nhiên, so với quy định tại Điều 15 Hiệp định TRIPs thì quy định này hạn chế hơn, không thể hiện sự “mạnh mẽ” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIPs là: bất kỳ dấu hiệu, tổ hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt đều có thể làm NHHH. BLDS Việt Nam quy định có phần cụ thể hơn khi liệt kê các dấu hiệu này, theo đó các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu hàng hoá bao gồm từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa từ ngữ và hình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều mầu sắc. Quy định này đã giới hạn các dấu hiệu có thể lựa chọn làm nhãn hiệu trong ba loại dấu hiệu. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu hàng hoá, họ không thể chọn các dấu hiệu nằm ngoài các dấu hiệu đã được liệt kê tại điều 785 BLDS. Trong tình hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu này có lẽ là phù hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loại hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú đa dạng, các nhà sản xuất luôn mong muốn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hấp dẫn cho các sản phẩm của mình để thu hút công chúng và cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì Việt Nam sẽ chưa thể bắt nhịp được với thế giới nếu như chúng ta bỏ qua những dấu hiệu đã được các nước trên thế giới công nhận như âm thanh, mùi vị…

     Quy định liên quan đến bảo hộ NHHH tại khoản 1 Điều 6 Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ đã thể hiện một khái niệm bao quát và gần với chuẩn mực quốc tế hơn: NHHH được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ củamột người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận”. Như vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ thì các dấu hiệu có thể cấu tạo nên NHHH được mở rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, hình ảnh như quy định của BLDS Việt Nam mà còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc…ngoài ra Hiệp định còn phân loại NHHH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Tuy nhiên, các nhãn hiệu như âm thanh, mùi vị vẫn chưa được đề cập đến trong nội dung Hiệp định này….

Xem thêm: 【HỎI】Chủ tịch hội đồng quản trị tiếng Anh là gì?

You Might Also Like

No Comments

Leave a Reply